Hatex.vn không bán sản phẩm trực tiếp. Nếu bạn muốn mua sản phẩm trên trang web của chúng tôi, vui lòng tham khảo thông tin của các nhà cung cấp và liên hệ với họ theo các thông tin được cung cấp.
Thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia với Khung kiến trúc tổng thể phiên bản 1.0
13/10/2026
23 Lượt xem
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1425/QĐ-TTg ngày 29/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0. Đây là cơ sở định hướng việc xây dựng, phát triển và vận hành hạ tầng số, hệ thống số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Tạo kiến trúc số thống nhất trên phạm vi quốc gia
Theo Quyết định, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số là căn cứ để xây dựng, phát triển, nâng cấp và vận hành hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu (CSDL) và dịch vụ số của các cơ quan, tổ chức trong toàn bộ hệ thống chính trị.
Khung kiến trúc hướng tới bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, kết nối, liên thông, chia sẻ và sử dụng chung giữa các hệ thống; đồng thời kế thừa tối đa những thành phần hiện có còn phù hợp. Qua đó, hạn chế tình trạng đầu tư phân tán, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, đáp ứng yêu cầu phát triển và ứng dụng công nghệ mới trong tương lai.
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0 được xây dựng nhằm khái quát mô hình kiến trúc số tổng thể của quốc gia, xác định những thành phần dùng chung và cơ bản nhất cho các cơ quan trong hệ thống chính trị ở các cấp. Một trong những yêu cầu trọng tâm là bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu, dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong quá trình kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu số.
Việc triển khai Khung kiến trúc cũng hướng tới tăng cường kết nối, chia sẻ và sử dụng chung tài nguyên, dữ liệu; phát triển các nền tảng số và cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia; thống nhất các khung kiến trúc, kiến trúc hiện có, hạn chế đầu tư trùng lặp trên phạm vi toàn quốc.
Bên cạnh đó, Khung kiến trúc góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ cho người dân và doanh nghiệp. Việc phát triển dữ liệu mở được kỳ vọng tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của xã hội, qua đó nâng cao mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Phạm vi áp dụng trong toàn bộ hệ thống chính trị
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số được áp dụng đối với việc xây dựng, cập nhật, quản lý và tổ chức triển khai khung kiến trúc số của các cơ quan Đảng, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Khung kiến trúc Chính phủ số, được tổ chức triển khai thông qua Khung kiến trúc Chính phủ số cấp bộ và Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh; cùng khung kiến trúc số của các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Đồng thời, Khung kiến trúc là căn cứ đối với hoạt động đầu tư, xây dựng, nâng cấp, phát triển, vận hành, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng chung hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số theo quy định của pháp luật.
Việc áp dụng thống nhất Khung kiến trúc tạo cơ sở để các cơ quan, tổ chức xây dựng và phát triển hệ thống số theo định hướng chung, bảo đảm khả năng kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan và từng bước hình thành hệ sinh thái số đồng bộ trên phạm vi quốc gia.
Bảy nguyên tắc cốt lõi của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số kế thừa đầy đủ bảy nguyên tắc cốt lõi tại Quy định số 05-QĐ/BCĐTW ngày 27/8/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về Mô hình liên thông số thống nhất, hiệu quả và quản trị dựa trên dữ liệu trong hệ thống chính trị. Đồng thời, các nguyên tắc được cập nhật, bổ sung nhằm phù hợp với quy định pháp luật và yêu cầu triển khai trong giai đoạn tới.
Thứ nhất, quản trị trên cơ sở định lượng, đo lường và kiểm chứng được kết quả.
Mục tiêu cao nhất và thước đo thành công của từng hợp phần trong mô hình là tạo ra kết quả thực chất, có thể định lượng, đo lường và kiểm chứng. Nguyên tắc này nhấn mạnh yêu cầu đánh giá hiệu quả triển khai dựa trên kết quả cụ thể, thay vì chỉ căn cứ vào việc hoàn thành các hoạt động hoặc đầu tư hệ thống.
Thứ hai, lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực.
Dữ liệu được quản trị thống nhất trên phạm vi quốc gia theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; được chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ, khai thác và điều phối theo quy định của pháp luật. Đây là cơ sở để nâng cao chất lượng thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành, hỗ trợ việc ra quyết định kịp thời và phù hợp với thực tiễn.
Thứ ba, vận hành thông minh và tự động hóa trên cơ sở ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI First).
Mô hình được thiết kế theo hướng ưu tiên xem xét tích hợp trí tuệ nhân tạo và công nghệ tự động hóa vào các quy trình nghiệp vụ phù hợp. Việc ứng dụng cần đáp ứng các điều kiện về pháp lý, dữ liệu, kỹ thuật, an toàn và quản trị rủi ro, bảo đảm công nghệ được triển khai hiệu quả, phù hợp với yêu cầu thực tế.
Thứ tư, phân cấp, phân quyền mạnh mẽ trên nền tảng số.
Trung ương tập trung vào vai trò kiến tạo thể chế, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, xây dựng và vận hành các nền tảng số dùng chung; đồng thời thực hiện chức năng giám sát việc tổ chức triển khai dựa trên dữ liệu. Nguyên tắc này hướng tới nâng cao hiệu quả quản lý, tăng tính chủ động của các cấp và bảo đảm việc phân cấp, phân quyền gắn với năng lực thực hiện, khả năng kết nối và giám sát.
Thứ năm, lấy người dùng làm trung tâm với hệ sinh thái dịch vụ hợp nhất.
Khung kiến trúc hướng tới khắc phục tình trạng phân mảnh, rời rạc trong trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp khi tương tác với cơ quan nhà nước. Cổng Dịch vụ công quốc gia và ứng dụng định danh điện tử VNeID được định hướng phát triển trong hệ sinh thái thống nhất, đồng bộ, liên thông và liền mạch.
Việc thiết kế dịch vụ cần bảo đảm khả năng tiếp cận cho mọi đối tượng, đặc biệt là nhóm người yếu thế; đồng thời tích hợp các tính năng hỗ trợ phù hợp như hướng dẫn bằng giọng nói, hỗ trợ ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Qua đó, góp phần đơn giản hóa quá trình sử dụng dịch vụ số, nâng cao trải nghiệm và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Thứ sáu, bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư là yêu cầu tiên quyết, xuyên suốt.
An ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư phải được xác định là yêu cầu xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời của hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số, từ thiết kế, xây dựng, triển khai, vận hành, nâng cấp đến kết thúc sử dụng.
Nguyên tắc này đặt yêu cầu bảo đảm an toàn ngay từ đầu, giúp tăng cường độ tin cậy của hệ thống, bảo vệ dữ liệu trong quá trình kết nối, chia sẻ và khai thác, đồng thời củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với môi trường số.
Thứ bảy, thúc đẩy phát triển dữ liệu mở, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và đổi mới sáng tạo.
Phát triển dữ liệu mở và tăng cường chia sẻ dữ liệu phù hợp với quy định của pháp luật góp phần nâng cao tính minh bạch, thúc đẩy trách nhiệm giải trình và mở rộng cơ hội tham gia của xã hội. Việc khai thác hiệu quả dữ liệu còn tạo điều kiện phát triển các sản phẩm, dịch vụ và mô hình đổi mới sáng tạo, gia tăng giá trị từ nguồn tài nguyên dữ liệu.
Các nguyên tắc gắn kết, tạo thành mô hình vận hành thống nhất
Bảy nguyên tắc cốt lõi có mối quan hệ chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau, tạo thành một thể thống nhất trong xây dựng và vận hành kiến trúc số quốc gia. Trong đó, bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư là nền tảng để các hoạt động kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu và cung cấp dịch vụ số được triển khai an toàn, tin cậy và bền vững.
Trên nền tảng an toàn đó, hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực cần được hỗ trợ bởi các hệ thống vận hành thông minh, có khả năng tự động hóa và thu thập dữ liệu phù hợp. Nguồn dữ liệu được chuẩn hóa và chia sẻ tạo điều kiện để Trung ương theo dõi, giám sát hiệu quả triển khai, qua đó hỗ trợ thực hiện phân cấp, phân quyền cho địa phương trên cơ sở thông tin và kết quả thực tế.
Hiệu quả của mô hình được đánh giá bằng những kết quả thực chất, có thể đo lường và kiểm chứng, hướng tới nâng cao chất lượng phục vụ và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp thông qua hệ sinh thái dịch vụ hợp nhất, lấy người dùng làm trung tâm. Đồng thời, việc công khai và phát triển dữ liệu mở góp phần tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khai thác hiệu quả giá trị của dữ liệu.
Như vậy, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0 không chỉ định hướng tổ chức các thành phần của hệ thống số mà còn xác lập những nguyên tắc quan trọng cho quản trị, vận hành và phát triển hệ sinh thái số quốc gia. Việc triển khai đồng bộ Khung kiến trúc sẽ góp phần tăng cường kết nối, liên thông giữa các cơ quan, sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư, bảo đảm an toàn dữ liệu và nâng cao chất lượng dịch vụ số, phục vụ người dân, doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.