Hatex.vn không bán sản phẩm trực tiếp. Nếu bạn muốn mua sản phẩm trên trang web của chúng tôi, vui lòng tham khảo thông tin của các nhà cung cấp và liên hệ với họ theo các thông tin được cung cấp.
Việt Nam đặt mục tiêu thương mại hóa 15 sản phẩm công nghệ chiến lược vào năm 2030
13/08/2026
66 Lượt xem
Việt Nam đang từng bước chuyển trọng tâm từ nghiên cứu, phát triển công nghệ sang làm chủ công nghệ và đưa sản phẩm ra thị trường. Theo Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định 1493 ngày 6/8, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 làm chủ 4 công nghệ chiến lược và thương mại hóa 15 sản phẩm trong đó có ít nhất 5 sản phẩm vươn ra thị trường khu vực và quốc tế.
Tầm nhìn đến năm 2035 được nâng lên với mục tiêu làm chủ 6 công nghệ chiến lược, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 25 sản phẩm. Các sản phẩm được thương mại hóa phải có tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 40% với ít nhất 30 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, trong đó 10 doanh nghiệp có sản phẩm công nghệ chiến lược tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Lấy bài toán thực tiễn làm điểm xuất phát
Tại Hội nghị phổ biến các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược ngày 10/8, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nhấn mạnh ba yêu cầu cốt lõi trong triển khai chương trình.
Trước hết là chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra. Các nhiệm vụ công nghệ chiến lược sẽ được quản lý theo sản phẩm, mốc tiến độ và cơ chế khoán chi, đồng thời tăng quyền chủ động cho đơn vị thực hiện gắn với trách nhiệm giải trình.
Thứ hai, nhiệm vụ nghiên cứu phải xuất phát từ bài toán thực tế của đất nước, thay vì chỉ bắt đầu từ đề xuất nghiên cứu. Mỗi nhiệm vụ cần xác định rõ công nghệ Việt Nam cần làm chủ, sản phẩm cuối cùng và doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt quá trình phát triển, thương mại hóa.
Thứ ba, hiệu quả phải được đánh giá bằng năng lực công nghệ thực tế và khả năng tạo ra sản phẩm ứng dụng. Các công trình, báo cáo khoa học là phương tiện, trong khi mục tiêu cuối cùng là làm chủ công nghệ, tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu thị trường.
Theo định hướng này, doanh nghiệp được đặt vào vị trí trung tâm trong quá trình xác định, triển khai và kiểm chứng kết quả nghiên cứu. Việc doanh nghiệp tham gia từ sớm được kỳ vọng giúp rút ngắn khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và thị trường, đồng thời tăng khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống.
Tập trung vào 10 nhóm công nghệ chiến lược
Danh mục công nghệ chiến lược được Chính phủ ban hành gồm 10 nhóm công nghệ và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên phát triển. Các nhóm công nghệ bao gồm công nghệ số; mạng di động thế hệ sau; robot và tự động hóa; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; năng lượng và vật liệu tiên tiến; chip bán dẫn; an ninh mạng và lượng tử; công nghệ biển, đại dương và lòng đất; hàng không và vũ trụ; đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
Trong đó, công nghệ số được xác định là nhóm trung tâm với các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, điện toán biên, Internet vạn vật và chuỗi khối. Đây được xem là nền tảng quan trọng cho chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số.
30 sản phẩm công nghệ chiến lược được chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất gồm 22 sản phẩm đã có thị trường và có khả năng tạo tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế. Nhóm còn lại gồm 8 sản phẩm có tính nền tảng dài hạn, được kỳ vọng tạo động lực tăng trưởng mới và góp phần bảo đảm năng lực tự chủ về công nghệ, an ninh và quốc phòng.
Để hiện thực hóa các mục tiêu, Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị các bộ, ngành, địa phương chủ động xác định những bài toán ưu tiên dựa trên nhu cầu thực tiễn và lợi thế cạnh tranh; đồng thời các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cần tăng cường liên kết, chuẩn bị nguồn lực và hình thành năng lực công nghệ dài hạn.
Định hướng được xác định rõ: lấy bài toán của đất nước làm điểm xuất phát, công nghệ chiến lược cần làm chủ làm mục tiêu, sản phẩm công nghệ chiến lược làm đầu ra và doanh nghiệp, thị trường làm nơi kiểm chứng. Đây được kỳ vọng là bước chuyển quan trọng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trực tiếp đóng góp vào năng lực cạnh tranh và tự chủ công nghệ của Việt Nam.